feedburner
Nhập địa chỉ email của bạn:



Delivered by FeedBurner



4 phần mềm cần cài đặt trên Ubuntu 8.04 Hardy Heron

Nhãn:

Phiên bản được chờ đợi 8.04 của Ubuntu Desktop có tên ‘Hardy Heron’ đã ra đời ngày 25/04 vừa qua. Chúng tôi chỉ có thể hy vọng rằng phiên bản mới nhất đó sẽ mang nhiều người dùng tới thế giới Linux.

Ubuntu đem đến nhiều chức năng và hoàn toàn miễn phí, 5 phần mềm sau đây sẽ giúp nó trở nên tốt hơn:

1. Compiz Advanced Settings Manager

Ubuntu có những thiết lập với những hiệu ứng đồ họa làm bạn hài lòng, nhưng bạn chỉ có thể chọn giữa 3 mức độ - normal, extra, và no graphics (không đồ họa). Ubuntu không cho bạn khả năng tùy biến cấu hình/thêm những hiệu ứng đồ họa đẹp đẽ cho sự chuyển động.

Bằng việc cài đặt Compiz Config Settings Manager, bạn có thể tinh chỉnh những hiệu ứng bằng việc sử dụng một giao diện đồ họa GUI. Ví dụ, bạn có thể thay đổi mức độ trong suốt của cửa sổ cài đặt, và thêm hiệu ứng quay,...

Compiz Settings Manager có thể được cài đặt bằng cách gõ:
$sudo apt-get install compizconfig-settings-manager

2. Startup Manager

Ubuntu có tính năng msconfig-như trình quản lý startup có thể truy cập từ System > Preferences > Sessions nó không cho bạn nhiều cài đặt.

Bạn có thể download và cài đặt một chương trình có tên Startup Manager nó có thể giúp bạn tinh chỉnh một vài cài đặt hữu ích . Nhìn vào hình minh họa phía trên. Nó có những thuộc tính thay đổi cài đặt GRUB, menu timeout, màu sắc, ảnh nền, menu độ phân giải, grub password, ...

Startup Manager có thể được cài đặt bằng cách gõ:
$sudo apt-get install startupmanager

3. GParted

Bạn đã biết rằng bạn không bao giờ cần chống phân mảnh trên hệ thống file Linux? Vậy, 1 trình chống phân mảnh ổ đĩa là không cần thiết. Tuy nhiên, bạn có thể muốn quản lý những phân vùng trên ổ cứng của bạn nếu bạn có những dự liệu lộn xộn bên trong.

GParted làm công việc đó cho bạn. Nó rất tuyệt vời, trình quản lý phân vùng mã nguồn mở đó có thể format, resize, xóa và thực hiện những thao tác trên những phân vùng ổ cứng của bạn. Đây thực sự là 1 tiện ích cần thiết.

GParted có thể được cài đặt bằng cách gõ:
$sudo apt-get install gparted

4. NumLockX

Bạn sử dụng những phím số trên bàn phím phần lớn thời gian, nhưng khi bạn boot vào Ubuntu, phím NumLock không được bật theo mặc định.

Có 1 cách để nó luôn bật, sử dụng ứng dụng có tên numlockx nó làm việc đó hoàn hảo. Chỉ có dung lượng dưới 75 KB, công cụ này làm việc mà tên nó đã nói - bật phím NumLock khi giao diện đồ họa (GUI) khởi động.

Numlockx có thể được cài đặt bằng cách gõ:
$sudo apt-get install numlockx





Làm thế nào để download video từ Flickr ?

Nhãn:

Flickr gần đây đã cho phép những người dùng cấp cao có thể upload những đoạn video lên site này. Những video trên Flickr thông thường có chất lượng tốt, và chắc hẳn bạn có muốn download và lưu trữ những video này vào ổ cứng của mình. Nếu bạn muốn download những video từ Flickr, bạn hãy thử những cách sau:

Trước tiên, hãy cài đặt Orbit Downloader bằng cách lấy nó về từ đây. Khởi chạy Orbit Downloader.

Sau đó, tới trang web nơi mà Flickr Video được hiển thị. Bạn sẽ nhìn thấy một nút Grab nằm ở phía trên của video như bạn nhìn thấy trong hình ảnh sau:

grab_flickr_video_download

Click vào nút Grab phía trên Flickr video.

Một cửa sổ mới với tiêu đề ‘Grab++’ sẽ được mở. Nếu Orbit Downloader yêu cầu bạn refresh trang web, hãy thực hiện bằng việc nhấn phím F5 trên bàn phím.

grab_flickr_Video

Trở lại cửa sổ Grab++ và click vào video file để download nó. Nếu có quá nhiều file được liệt kê, có 1 file chứa 1 số theo sau và có đuôi .flv (ví dụ: 209.73.191.93.flv) thì đó chính là Flickr video mà bạn cần download (Hãy chú ý rằng đây chỉ là 1 ví dụ. Trong quá trình sử dụng, nó có thể là số khác).

Click ‘Download’ trong cửa sổ Grab++ để download Flickr Video.

grab_2

Chú ý rằng tất cả Flickr videos có phần mở rộng là .FLV. Bạn cần một trình chạy file dạng này, .FLV player có thể chạy những Flickr video đã download.





Khởi chạy trình chống phân mảnh ổ đĩa từ xa

Nhãn:

Với sự trợ giúp của PsExec và công cụ điều khiển chống phân mảnh (defrag.exe), bạn có thể thực

hiện chống phân mảnh ổ đĩa trên một máy tính từ xa ở bất kỳ vị trí nào trong mạng.


PsExec là 1 tiện ích cho bạn khả năng thực thi những tiến trình trên những hệ thống khác,

tương tác để điều khiển những ứng dụng, không cần phải cài đặt phần mềm trên máy trạm như

thông thường. PsExec thể hiện sức mạnh khi bao gồm tính tương tác bằng dòng lệnh

(command-prompts) trên những hệ thống từ xa và những công cụ thực thi lệnh từ xa như

IpConfig tuy nhiên nó không có khả năng hiển thị thông tin về hệ thống.

Khởi chạy Disk Defragmenter từ xa

1. Tải về PSExec và lưu nó vào Desktop.

2. Giải nén và di chuyển file PSExec.exe vào thư mục Windows trong ổ C.

3. Mở cửa sổ Command Prompt (cmd.exe) và gõ:
PsExec -i -s \\ c:\windows\system32\defrag.exe c: -f

Giả thiết ở trên áp dụng với tên của máy tính ở xa là RemotePC.

Khi tham số -i được chuyển đổi rõ ràng, chương trình sẽ tương tác với màn hình của phiên làm

việc được chỉ rõ trên hệ thống ở xa. Bởi vậy, người sử dụng từ xa có thể hủy bỏ tiến trình chống

phân mảnh đĩa bất cứ lúc nào.



Thay đổi mật khẩu sử dụng dòng lệnh trong windows

Nhãn:

Làm thế nào để thay đổi mật khẩu tài khoản người dùng sử dụng dòng lệnh (Command Prompt)

Hỏi: Làm sao để reset hoặc thay đổi password sử dụng dòng lệnh?

Mở Command Prompt (cmd.exe), và gõ dòng lệnh sau:

NET USER
Ví dụ
:
NET USER CHIASE 1BAIVIET






Cấm không cho sử dụng chương trình chat Yahoo Messenger

Nhãn:

Mặc định là khi ta cấu hình cho Users sử dụng 2 giao thức HTTP và HTTPS thì sẽ không thể nào chat Yahoo Messenger được vì chat sử dụng 1 giao thức khác. Nhưng nếu 1 người nào đó biết tận dụng Proxy trong Yahoo gõ IP của ISA vẫn chat được như thường ví dụ như sau:

Cách sử dụng Proxy trong Yahoo. Ta mở chương trình Yahoo Messenger lên, chọn Messenger chọn Connection Preferences

Ta chọn Connection rồi chọn Use proxies rồi ta đánh dấu vào Enable HTTP proxy

Server Name ta điền 10.0.0.1, Server Port điền 8080 rồi bấm OK rồi login lại ta thấy vẫn vào chat bình thường

Lúc này tại máy ISA chận tiếp bằng cách

Chọn Configuration rồi chọn Networks. Ta thấy mục Internal 10.0.0.2 -10.0.0.255

Ta chọn dòng Internal click chuột phải chọn Properties rồi ta chọn mục Web Proxy bỏ dấu check ở ô Enable Web Proxy Cliens rồi OK rồi Apply

Như vậy là không vào Yahoo được bằng Proxy được nữa

Nhưng 1 ngày nào ta gặp cao thủ lần này không sử dụng Proxy nữa mà nó sử dụng Firewall with no proxies và vẫn vô chat được như bình thường

Lúc này vào ISA lại chặn bằng phương pháp Signatures

Ta chọn lại Firewall Policy rồi chọn lại rule Users ra Internet (HTTP và HTTPS) kích chuột phải và chọn Configure HTTP

Rồi chọn Tab Signatures rồi bấm Add

Name ta điền Yahoo Messenger
Description: Deny Yahoo Messenger
Search in: Ta bấm mũi tên và chọn Request headers
HTTP header: Host:
Signature: msg.yahoo.com rồi OK

Khi đó OK tiếp rồi Apply

Như vậy qua các bước chặn như vậy không thể nào chat được!





Để nâng cao hiệu suất chat

Nhãn:

Mạng chat chập chờn lúc được lúc mất, có nhiều nick nhưng lại không thể đăng nhập cùng lúc, hay muốn biến hình Avatar của bạn thành của mình. Nếu bạn dùng Yahoo! Messenger 8.1 thì tất cả đều có thể thực hiện được qua hướng dẫn dưới đây.
Khắc phục lỗi không thể đăng nhập

Đôi khi tín hiệu kết nối Internet của máy tính vẫn ổn nhưng bạn gặp rắc rối đăng nhập vào YM. Khi gặp rắc rối như vậy, bạn có thể thử làm theo các bước sau để khắc phục:

- Từ cửa sổ YM, bạn vào trình đơn Messenger chọn Prefrences.

- Cửa sổ Yahoo! Messenger Prefrences mở ra bạn chọn mục Connection ở khung bên trái. Tại khung bên phải có 4 tùy chọn. Thông thường, mặc định sẽ nằm ở tùy chọn No Proxies. Nhưng trong trường hợp không thể đăng nhập thì bạn có thể thay bằng tùy chọn Firewall with no proxies. Nhấn OK và thử đăng nhập lại để kiểm tra kết quả. Nếu vẫn không thể đăng nhập thành công, bạn hãy chuyển qua tùy chọn No network detection và thử đăng nhập lại lần nữa. Nếu kết quả vẫn không thành công, thì có lẽ máy của Yahoo đang gặp vấn đề. Bạn nên chờ ít phút sau hãy thử đăng nhập lại.

Ngăn chặn virus phát tán qua tin nhắn

Chắc hẳn bạn đã biết đến những tin nhắn có chứa virus trong các đường link với những lời mời gọi bấm vào. Các tin đó được gửi đến từ những tài khoản sử dụng trên máy bị nhiễm virus có khả năng dò tìm nickname trên danh sách của chủ nhân ID. Nếu máy tính của bạn cũng bị lây nhiễm nhưng chưa kịp sử dụng chương trình diệt virus để dọn dẹp, thì bạn có thể ngăn chặn cơ chế phát tán tin nhắn trong danh sách của mình bằng cách :

- Tại cửa sổ YM, bạn chọn Messenger và chọn tiếp mục Prefences.

- Cửa sổ Yahoo! Messenger Prefrences hiện ra. Ở khung bên trái, bạn chọn đến mục Messages. Tại đây, khung bên phải, mục Pressing Enter in a Message widows, bạn chọn tùy chọn Inserts a new line in the message và nhấn OK.

Hoàn thành thao tác này, mỗi khi virus tự động phát tán tin nhắn, nếu bạn không nhấn vào nút Send thì virus sẽ không thể tự mình phát tán các tin nhắn có chứa link virus được. Do đó, bạn sẽ ngăn không cho virus tiếp tục phát tán. Tuy nhiên, trong trường hợp máy tính của bạn không bị nhiễm virus hoặc đã dọn sạch virus thì nên chỉnh lại mặc định ở chọn tùy chọn Sends a Message nếu không trong lúc chat, bạn sẽ phải nhấn nút Send để gửi tin đi thay vì nhấn nút Enter như bình thường.

Tự động lưu lại nội dung tin nhắn

Để lưu lại nội dung các cuộc chat bạn chọn cách sau:

- Từ cửa sổ YM, bạn chọn Messenger và chọn tiếp mục Prefences.

- Cửa sổ Yahoo! Messenger Prefrences hiện ra. Tại khung bên trái, bạn chọn đến mục Archive. Tại đây, ở khung bên phải bạn đánh dấu chọn mục Yes, save all of my message và nhấn OK.

Kết thúc bước thiết lập khá đơn giản này, bạn hoàn toàn có thể đọc lại được những đoạn hội thoại với người nào, bạn chỉ việc tìm đến nickname của người ấy nếu muốn.

Dùng chung Avatar của bạn chat

Là hình ảnh nhỏ đi kèm mỗi tài khoản YM sử dụng để đại diện cho mình. Cho nên bạn có thể nhìn thấy Avatar trên danh sách bạn bè YM của mình.

Trong trường hợp bạn muốn lấy 1 hình ảnh tương tự bạn mình để làm avatar, thì ngoài cách xin hình ảnh đó, bạn có thể truy cập vào http://img.msg.yahoo.com/avatar.php?yids=NickName trong đó phần NickName là tên ID bạn muốn lấy Avatar.

Chẳng hạn, bạn muốn lấy avatar của nick 12345 thì bạn sẽ sử lại link trên thành http://img.msg.yahoo.com/avatar.php?yids=12345, lập tức hình ảnh Avatar của nick 12345 đang sử dụng sẽ được hiện ra. Việc tiếp theo của bạn chỉ là save hình ảnh đó lại và sử dụng làm avatar cho chính mình.




Nâng cao trình độ dùng Flickr

Nhãn:

Chia sẻ ảnh chụp trực tuyến thông qua dịch vụ Flickr là điều thú vị, tuy nhiên mọi thứ sẽ càng thú vị hơn nữa nếu bạn sử dụng những tiện ích bổ sung từ một số hãng thứ 3 khác. Sau đây là 3 tiện ích miễn phí hấp dẫn mà bạn đọc của các website chia sẻ hình ảnh trực tuyến thông dụng không thể bỏ qua.

Ghép vần từng chữ: Một trong những ứng dụng nhỏ trên nền web (hay còn gọi là mashup) dành cho Flickr hấp dẫn nhất chính là Spell with Flickr (metaatem.net/words). Công cụ này dùng Flickr để tìm ra hình ảnh phù hợp với các ký tự trong bảng chữ cái rồi dùng chúng để biểu diễn thông điệp của bạn. Sau khi website này đưa ra một bức tranh mang tính ngẫu nhiên, bạn có thể thay đổi từng ký tự bằng cách nhấn chuột lên từng hình tương ứng với ký tự đó (xem hình). Khi đã bằng lòng với kết quả tìm được, bạn chép và dán đoạn mã HTML được cung cấp ở bên dưới vào blog hay website cá nhân của mình hay bất cứ ở đâu mà bạn muốn.

Bạn trình bày mọi văn bản bằng cách sử dụng hình ảnh
của từng ký tự riêng biệt với Spell with Flickr.
Tìm hình theo ý muốn: Nếu bạn thích lục tung Flickr để tìm kiếm những tấm hình ưa thích mỗi khi rảnh rỗi, hãy sử dụng Tagnautica (find.pcworld/59849). Webiste thú vị này cung cấp một biện pháp mới để khám phá những gì có trên Flickr. Ở giao diện chính của trang chủ, nhấn vào chữ CLICK HERE và nhập vào một tên từ khóa (hay còn gọi là tag), và ngay tức khắc bạn sẽ thấy một vòng tròn các từ khóa liên quan xuất hiện xung quanh từ khóa của mình. Nhấn chuột lên một từ khóa của vòng tròn này, từ khóa đó sẽ được di chuyển vào giữa, và các thẻ liên quan của từ khóa này sẽ bao quanh phía ngoài. Bất kỳ lúc nào, bạn cũng có thể nhấn chuột lên từ khóa ở giữa để đi đến một trang Flickr chứa tất cả hình ảnh có từ khóa tương ứng.

Mọi người ở mọi nơi: Flickr cũng như nhiều website chia sẻ hình ảnh gần như bao trùm cả hành tinh này, tuy nhiên FlickrVision (flickrVision.com) sẽ giới thiệu đến bạn những người đang sinh sống ở nhiều khu vực thông qua một bản đồ toàn cầu dạng 2D hoặc 3D. Khi quan sát, bạn sẽ thấy những ảnh chụp xuất hiện trên bản đồ dưới dạng bong bóng, chỉ rõ địa điểm gốc của chúng. Nếu thấy có gì đó muốn xem rõ hơn, bạn chỉ rê chuột qua và một hình kích thước lớn hơn sẽ xuất hiện ở giữa màn hình trong một cửa sổ mới.





Công cụ cắt màn hình tiện lợi của Vista

Nhãn:

Một bạn đọc cho biết đã đọc bài viết "Làm việc thông minh hơn với công cụ mới của Vitsa" (ID: A0707_144) nhưng lại không thể tìm thấy công cụ cắt màn hình Snipping Tool trong máy tính của mình và hỏi rằng liệu có phải đã cài sai phiên bản Vista - máy tính đang sử dụng chạy Vista Basic.

Nếu đang sử dụng phiên bản Vista Basic thì mọi chuyện đã rõ, đó là một phiên bản sai về mọi mặt. Thực chất, Vista Basic là phiên bản nâng cấp của Windows XP - nhưng lại thiếu đi môi trường Aero hấp dẫn có ở các bản Vista khác. Ngoài ra, Vista Basic cũng thiếu tính năng Shadow Copies, tính năng sao lưu định kỳ và kể cả công cụ Snipping Tool.

Bổ sung công cụ cắt màn hình Snipping Tool của Vista và
những ứng dụng khác liên quan đến bút nhập nếu đánh dấu
tùy chọn này.

Liệt kê sự khác biệt giữa các phiên bản Vista là việc không mấy dễ dàng, dù vài website cung cấp sự giúp đỡ để so sánh những tính năng. Các biểu đồ so sánh trên trang chủ Supersite for Windows của Paul Thurrott (find.pcworld.com/58978) là địa chỉ tin cậy mà bạn có thể tham khảo. Tuy nhiên, bản thân Vista cũng có một tính năng hữu ích tương tự: bạn mở Control Panel và khởi chạy Windows Anytime Upgrade. Ở phía dưới cửa sổ này, nhấn chuột chọn Compare versions để xem qua chi tiết những gì mà bạn cần cập nhật thêm cho phiên bản Vista mà mình đang sử dụng.

Nếu bạn sở hữu một phiên bản Vista không phải là Home Basic thì điều đó có nghĩa là bạn đã có trong tay tiện ích cắt màn hình Snipping Tool: chọn Start.All Programs.Accessories.Snipping Tool. Nếu không thấy mục này, cần kích hoạt nó. Trong Control Panel, bạn mở Program and Features (có thể phải nhấn chuột vào Programs trước). Trong khung tác vụ bên trái, bạn nhấn chuột chọn Turn Windows features on or off. Nếu cần, nhấn chuột chọn Continue khi được User Account Control nhắc. Bạn cuộn qua hết danh sách các tính năng, đánh dấu chọn lên hộp thoại cạnh bên mục Tablet PC Optimal Components, và nhấn OK (xem hình). Việc mở nhóm tính năng này sẽ không chỉ cung cấp cho bạn tính năng Snipping Tool mà còn có Tablet PC Imput Panel, Windows Journal và những tính năng liên quan đến bút nhập.



Những thử nghiệm đáng giá

Nhãn:

Spokeo: luôn theo dõi bạn bè

Với việc bùng nổ của các mạng cộng đồng, chắc chắn một vấn đề xảy ra là tính không liên thông, ví dụ nhóm người này của bạn dùng MySpace, nhóm khác lại sử dụng LinkedIn, và còn một số khác nữa lại thích dùng Twitter... Spokeo giúp bạn theo dõi hết mọi người chỉ từ một điểm. Dịch vụ miễn phí này quét danh sách địa chỉ của bạn và tìm tài khoản của bạn bè bạn trên bất cứ một trong 30 dịch vụ mạng phổ biến hiện nay, trong đó có những mạng như mạng bạn bè Friendster, mạng hình ảnh Flickr, và thậm chí cả Wish List của Amazon. Khi bạn bè của bạn đưa hình hoặc thứ gì đó mới thì Spokeo báo cho bạn biết. Spokeo không theo dõi FaceBook. Trang web chỉ hiển thị thông tin mà bạn cấp quyền. spokeo.com

RescueTime: lập biểu đồ theo dõi chính mình

Nhiều lúc bạn không có thời gian và tự hỏi ngày giờ làm việc của bạn chạy đi đâu rồi? Nếu phải nhìn vào chiếc màn hình máy tính mỗi ngày thì RescueTime sẽ cho bạn biết chính xác bạn đang làm gì. RescueTime sẽ theo dõi bạn làm việc trên một ứng dụng cụ thể trong bao lâu hoặc duyệt một trang web cụ thể nào đó mất bao lâu (xem hình). Phần mềm cũng rất thông minh, nhận ra khi nào bạn làm việc thực sự và khi nào bạn chỉ ngồi vào máy tính trong suốt giờ nghỉ trưa. Sau đó, bạn đăng nhập vào tài khoản trên trang web dịch vụ để xem biểu đồ chi tiết minh họa bạn đã từng làm gì. Trang web kết hợp dữ liệu từ bất cứ PC nào mà bạn dùng mà có cài phần mềm giám sát này. Hơn nữa, bạn có thể áp dụng những tag như "làm việc" hoặc "chơi game" cho từng ứng dụng, để phân loại bạn sử dụng thời gian như thế nào. Rescuetime.com

Zoho Show 2: trình diễn trực tuyến cải tiến

Thế hệ thứ 2 của ứng dụng thay thế PowerPoint dựa trên nền web, miễn phí của Zoho gần giống với chương trình của Microsoft hơn, với các tính năng cộng tác khá độc đáo. Phiên bản này của Show có nhiều theme mới, khả năng thêm hình đồ họa, clip art và nhiều tùy chọn để định dạng văn bản và sắp xếp hình ảnh. Show có nhiều khả năng mới hơn là ứng dụng tương tự của Google. Bạn có thể phân phối trình diễn không dây ngay từ trong Zoho Show và bạn có thể chat với những người theo dõi và thậm chí cho họ điều khiển trình diễn. find.pcworld.com/58501



CHỌN BỘ NGUỒN THÍCH HỢP

Nhãn:

Xin hỏi, tôi nên chọn bộ nguồn với công suất bao nhiêu là tốt nhất?
Thông thường, bạn nên cung cấp đủ công suất điện mà tất cả thiết bị bên trong máy tính yêu cầu và sau đó cộng thêm 30%. Tốt hơn hết bạn nên xác định tổng công suất mà máy tính cần thiết để mua một bộ nguồn phù hợp bởi bộ nguồn 500 watt cũng chỉ chạy một máy tính 200 watt hiệu quả như khi sử dụng bộ nguồn 300 watt.
Bộ nguồn là thành phần rẻ nhất trong máy tính, tuy nhiên một bộ nguồn loại tốt thường đắt hơn chút đỉnh so với các bộ nguồn cùng công suất. Một bộ của các hãng danh tiếng như Antec, PC Power & Cooling hay Seasonic sẽ ít bị trục trặc, tuổi thọ dài hơn, ít hao điện và hoạt động êm ái hơn so với các bộ nguồn loại rẻ tiền. Để biết thêm chi tiết về việc chọn một bộ nguồn, bạn có thể tham khảo tại địa chỉ find.pcworld.com/59835.




Đọc Gmail trên máy tính thông qua POP3/IMAP

Nhãn:

Nhiều người ngưỡng mộ giao diện của dịch vụ thư điện tử Gmail, tuy nhiên bạn lại thích dịch vụ này chỉ vì có thể truy cập tài khoản của mình thông qua một chương trình gửi nhận thư điện tử chuẩn nào đó như Outlook, Outlook Express, Thunderbird hoặc Apple Mail. Từ lâu, Gmail đã cho phép người dùng tải về thư điện tử (email) thông qua những chương trình thư điện tử kể trên bằng cách sử dụng giao thức POP3 (Post Office Protocol) mà qua đó chương trình sẽ tải về bản sao của từng email xuống máy tính của người dùng.

Gần đây, GMail được bổ sung thêm khả năng hỗ trợ giao thức IMAP (Internet Message Access Protocol), đây là chuẩn được thiết kế để cho phép chương trình thư điện tử lưu các email lại máy chủ và tải xuống một bản sao của email này chỉ để đọc khi cần thiết. Một lợi ích quan trọng của IMAP là các thư mục thư đến, thư gửi đi hay hộp thư lưu được sắp thứ tự trông hệt như nhau bất kể bạn sử dụng máy tính hay phần mềm nào để truy xuất chúng. IMAP cũng hiệu quả để truy xuất email từ điện thoại di động.

Bạn phải thực hiện vài thiết lập trước khi có thể đọc Gmail trong chương trình thư điện tử của mình. Đầu tiên, trong Gmail, bạn chọn Settings.Forwarding and POP/IMAP và lựa chọn giao thức là POP3 hay IMAP. Đối với POP3, bạn chọn Enable POP for all mail, hoặc Enable POP for mail that arrives from now on. Tùy chọn thứ nhất sẽ làm cho chương trình thư điện tử của bạn tải xuống mọi email trong tài khoản Gmail, trong khi đó tùy chọn thứ hai sẽ bỏ qua những email cũ và chỉ áp dụng cho những email mới bắt đầu từ thời điểm này.

Nhập vào thông tin máy chủ Gmail vào cấu hình của ứng dụng gửi/nhận thư điện
tử.

Tiếp đến, hãy quyết định xem bạn phải làm gì với các email trong Gmail sau khi đã sử dụng chương trình thư điện tử để tải chúng về từ trình đơn "When messages are accessed with POP". Gmail cung cấp miễn phí dung lượng lưu trữ lớn (trên 2GB) vì thế đừng sử dụng các tùy chọn của mục "delete Gmails copy" mà thay vào đó hãy sử dụng "archive Gmails copy". Cụ thể, tùy chọn "keep Gmails copy in the Inbox" sẽ giữ danh sách email của Gmail không bị thay đổi bởi những lần tải xuống theo giao thức POP3. Nhấn Save Changes để kích hoạt tính năng POP3 trong Gmail. Để kích hoạt IMAP, bạn chọn Enable IMAP và nhấn Save Changes.

Trong Gmail, chọn Settings. Forwarding and POP/IMAP, rồi nhấn Configuration instructions trong phần POP hoặc IMAP của trang đó để xem chi tiết về cách cài đặt trên phần mềm thư điện tử mà bạn đang sử dụng. Đối với cấu hình POP3, địa chỉ máy chủ cho thư đến là pop.gmail.com trên cổng 995 sử dụng chế độ bảo mật SSL (Secure Sockets Layer), còn địa chỉ máy chủ cho thư đi là smtp.gmail.com trên cổng 465 sử dụng chế độ bảo mật SSL hoặc trên cổng 587 sử dụng giao thức mới TLS (Transport Layer Security). Lưu ý, bạn đừng kích hoạt tùy chọn đăng nhập sử dụng cơ chế xác thực Secure Password Authentication. Với IMAP, địa chỉ máy chủ thư đến là imap.gmail.com trên cổng 993 sử dụng chế độ bảo mật SSL (xem hình) và địa chỉ máy chủ thư đi là smtp.gmail.com trên cổng 465 SSL hoặc trên cổng 587 TLS.

NHÃN DƯỚI DẠNG THƯ MỤC

Bất kể chọn IMAP hay POP3, ngay tức khắc chương trình thư điện tử của bạn sẽ kết nối với máy chủ dịch vụ, sau đó tìm và hiển thị các nhãn của Gmail (bao gồm Sent Mail, Spam, và Starred) dưới dạng các thư mục. Nếu bạn chọn POP3, việc tạo hoặc xóa các thư mục trong chương trình thư điện tử của bạn sẽ không làm ảnh hưởng đến các nhãn của Gmail, tuy nhiên việc xóa một thư mục cũng sẽ xóa luôn các tập tin chứa trong thư mục từ máy chủ. Nếu bạn chọn IMAP, việc tạo hoặc xóa các thư mục trong chương trình thư điện tử sẽ tạo hoặc loại bỏ nhãn tương ứng trên Gmail, vì đó là nơi các thư mục hoặc các nhãn sẽ thực sự trú lại. Việc xóa một thư mục sẽ không xóa đi những nội dung chứa trong đó, cũng như xóa một nhãn trong Gmail sẽ không xóa các email trong nhãn đó.



Rớt kết nối? Khôi phục địa chỉ IP

Nhãn:

Nếu đang sử dụng kết nối DSL hoặc cáp băng rộng, chắc chắn máy tính của bạn sẽ có một địa chỉ IP động - có nghĩa địa chỉ này sẽ thay đổi mỗi khi bạn đăng nhập vào mạng. Trong cửa sổ thiết lập thông số mạng của máy tính, cơ chế gán IP được gọi là DHCP (Dynamic Host Control Protocol).

Tuy nhiên, qua nhiều lần, quá trình này mất dần tính năng động vốn có như tên gọi của nó: thỉnh thoảng một địa chỉ IP mới không được gắn cho máy tính mà địa chỉ của lần kết nối trước đó vẫn tồn tại. Do đó, khi cần có một địa chỉ "tươi" để truy cập Internet, mở trình duyệt bạn lại chỉ nhìn thấy một màn hình báo lỗi cho biết máy tính không thể thiết lập kết nối với Internet.

Bất kể máy tính của bạn được nối trực tiếp qua modem hoặc thông qua một bộ định tuyến, bước đầu tiên để có một địa chỉ IP gán vào máy là thực hiện động tác nhấn phải chuột lên biểu tượng mạng trên khay hệ thống. Từ trình đơn vừa xuất hiện, bạn chọn Repair.Windows để máy tự động xóa sạch các địa chỉ IP cũ và yêu cầu một địa chỉ mới từ router hoặc từ hãng cung cấp dịch vụ Internet - tùy thuộc vào cách kết nối máy tính của bạn.

Ipconfig hiển thị cấu hình mạng của kết nối hiện tại mà máy tính
đang sử dụng, trong đó có địa chỉ IP.
Trong hầu hết mọi trường hợp, quá trình này hoạt động rất tốt. Tuy nhiên, khi bị trục trặc, bạn phải khắc phục tình trạng mất kết nối kể trên một cách thủ công, khi này, việc biết rõ các đầu vào và đầu ra của mục Ipconfig có thể giúp bạn nhanh chóng khôi phục lại kết nối.

Bạn nhấn chuột lên Start.Run rồi gõ vào lệnh cmd (trong Vista, bạn chỉ cần gõ cmd vào trong hộp Start Search). Tại dấu nhắc lệnh, bạn gõ vào lệnh ipconfig và ấn hay nhấn OK; cửa sổ dòng lệnh DOS sẽ hiển thị địa chỉ IP mới nhất của bạn cùng như thông số mạng khác (xem hình).

Mặc định, mục (lệnh) Ipconfig chỉ hiện thị thông tin. Để làm cho lệnh này mang đến một thay đổi thực sự, bạn phải thực hiện lệnh ipconfig kèm theo một tham số. Một trong hai thông số thông dụng dùng để sửa chữa và khôi phục kết nối Internet là "/release" và

/renew". Cụ thể, lệnh ipconfig /release sẽ làm cho máy chủ DHCP xóa bỏ địa chỉ IP hiện hành đối với tất cả card mạng, dù là mạng có dây hay không dây. Quá trình này chỉ thực hiện trong vài giây, được xác nhận bằng một hiển thị trong cửa sổ dòng lệnh DOS cho thấy giá trị của địa chỉ IP và Subnet Mask đều zero (0).

Sau đó, bạn gõ lệnh Ipconfig /renew. Nếu lệnh này thành công, một địa chỉ IP và Subnet Mask mới, cộng với gateway mặc định, sẽ xuất hiện cùng với địa chỉ DNS (về cơ bản, đây là địa chỉ của ISP mà bạn đang sử dụng, chẳng hạn 210.245.24.22).





Cơ bản về lỗi "màn hình xanh" trong Windows (phần 4/4)

Nhãn:

Xử lý sự cố phần cứng
Phần cứng trong hệ thống là những thiết bị không dễ dàng bị hư hỏng. Tuy nhiên, rất có thể một ngày đẹp trời nào đó các thiết bị này bị trục trặc và lỗi "màn hình xanh" là một triệu chứng nguy hiểm thông báo cho người dùng đã đến mức tuổi thọ của chúng.

Trong phần III, với trường hợp hệ thống thậm chí không thể khởi động được trong Safe mode và tùy chọn "Last known good configuration" cũng không trợ giúp được gì thì nguyên nhân hư hỏng phần cứng đang chiếm một tỉ lệ rất cao.

Cũng như với phần mềm, trước tiên, ta cần khảo sát từng trường hợp. Bạn hãy xem xét có phần cứng nào mới nhất được gắn vào hệ thống có nguy cơ làm phát sinh lỗi hay không. Tiến hành tắt nguồn, tháo linh kiện đó ra (trừ CPU) và khởi động lại hệ thống.

Trường hợp bạn không thường tháo gỡ hay thay đổi linh kiện phần cứng hoặc cách xử lý ở trên không giải quyết được vấn đề thì ta tiến hành xử lý đến bộ nhớ của hệ thống.

Kiểm tra bộ nhớ

Trước khi bắt đầu thử nghiệm bất cứ chương trình kiểm tra bộ nhớ nào thì bạn lưu ý rằng mình đang cài đặt bao nhiêu thanh bộ nhớ (RAM) trên hệ thống. Nếu bạn có trên 2 thì hãy thử nghiệm với từng thanh một. Sau đó, ta có thể dùng các chương trình kiểm tra bộ nhớ như Windows Memory Diagnostic , Docmem hay Memtest86+. Cả ba đều là những tiện ích miễn phí nhưng có độ chính xác cao, thường được dùng bởi những kỹ sư sửa chữa phần cứng. Sử dụng trên đĩa mềm hoặc CD để kiểm tra trong khi khởi động (boot) hệ thống.

Phiên bản Memtest86+ 1.70 có 2 chế độ kiểm tra là "basic" và "advanced", chúng khác nhau về cơ chế, mức độ kiểm tra kỹ lưỡng và thời gian kiểm tra. Cài Memtest86+ lên đĩa mềm hoặc CD rồi boot hệ thống, nhấn phím "C" để mở một trình đơn mới cho phép bạn chọn lựa chế độ kiểm tra. Bất kỳ lỗi nào trong bộ nhớ cũng đều được hiển thị phía dưới màn hình.

Kiểm tra lỗi bộ nhớ với Memtest86+. Windows Memory Diagnostic.

Xử lý: Nếu phát hiện ra lỗi từ thanh RAM nào, bạn tắt nguồn, tháo phích cắm ra khỏi ổ điện và tháo thanh RAM bị lỗi ra khỏi khe cắm. Làm vệ sinh cẩn thận với chân RAM và khe cắm. Sau đó, hãy thử cắm sang một khe khác. Bật nguồn và khởi động lại hệ thống để kiểm tra lại bộ nhớ có hoạt động tốt hay không. Nếu vẫn bị lỗi thì thanh RAM đã bị hư hỏng và đến lúc thay một thanh RAM mới. Hoặc để chắc chắn hơn, bạn cũng có thể đem thanh RAM gắn sang một hệ thống khác rồi kiểm tra.

Kiểm tra hệ điều hành

Windows XP thường hay ngưng hoạt động nếu những tập tin hệ thống bị mất đi hay lỗi do ổ đĩa, virus phá hoại. Ngoài ra, khi bạn chuyển toàn bộ hệ điều hành đã cài đặt trên ổ cứng sang một hệ thống phần cứng khác thì rất có thể sẽ gặp lỗi "màn hình xanh". Để HĐH hoạt động tốt trở lại, ta phải thực hiện công việc sửa chữa và cập nhật tập tin hệ thống.

Xử lý: ta sử dụng chức năng "Repair Install". Chức năng này cho phép tái cài đặt lại toàn bộ những tập tin hệ thống trong Windows nhưng bỏ qua các thư mục, thiết lập và không ảnh hưởng đến dữ liệu người dùng.

1. Cho đĩa CD cài đặt Windows XP vào ổ CD-Rom.
2. Vào CMOS thiết lập khởi động từ ổ CD để boot với Windows.
3. Chọn tùy chọn "Press Enter to set up Windows XP now"
4. Nhấn F8 để bỏ qua bản quy định bản quyền (EULA)
5. Nhấn phím "R" để bắt đầu sửa chữa cài đặt.

Những dữ liệu có sẵn của bạn sẽ không bị thay thế, hệ thống chỉ đơn giản là cài đặt lại các tập tin hệ thống và quét lại tất cả thông tin phần cứng. Khi tiến trình xử lý xong, hệ thống sẽ khởi động lại. Lưu ý rằng sau khi thực hiện công việc này, bạn nên cập nhật lại Windows tại Windows Update để cập nhật các bản vá lỗi vì tiến trình xử lý sẽ gỡ bỏ toàn bộ phần cập nhật.

Nếu các trường hợp và cách xử lý trên vẫn không giúp bạn giải quyết được vấn đề, hãy tham khảo các trường hợp còn lại có thể phát sinh lỗi ở phần cuối.





Cơ bản về lỗi "màn hình xanh" trong Windows (phần 3/4)

Nhãn:

Xử lý sự cố "Màn hình xanh"
Trong phần này, ta sẽ tiến hành thực hiện các bước xử lý lỗi chung cho các trường hợp để khắc phục lỗi.

Khi gặp trường hợp lỗi BSOD (Blue screen of dead - màn hình xanh chết chóc), trước tiên bạn cần phải xem xét nó thuộc nhóm lỗi nào như ở phần trước đã giới thiệu, nhưng mặc định Windows sẽ tự động khởi động lại hệ thống khi bắt gặp lỗi.

Do đó, ta cần thay đổi thiết lập này trong Windows XP bằng cách: phải chuột lên My Computer - Properties, chọn thẻ "Advanced" và bên dưới phần "Startup and Recovery" nhấn vào nút "Settings". Cửa sổ mới sẽ xuất hiện và dưới phần "System Failure", bỏ chọn "Automatically restart".

Sau khi thực hiện thao tác trên, ta có thể khởi động lại Windows thủ công để xem lỗi BSOD có được khắc phục hay chưa. Nếu đã xử lý được, thì bạn cứ tiếp tục sử dụng trừ trường hợp số lần bị lặp lại nhiều lần trong khoảng thời gian ngắn thì tham khảo những trường hợp và cách xử lý bên dưới đây.

Lưu ý là lỗi BSOD có rất nhiều nguyên nhân nên ta cần phải xem xét qua khá nhiều trường hợp dẫn đến việc hệ thống hư hỏng mà có cách giải quyết riêng.

Trường hợp Windows vẫn không khởi động lại được như bình thường hoặc BSOD vẫn xuất hiện thì khi ở màn hình khởi động (POST - giai đoạn kiểm tra bộ nhớ), nhấn F8 nhiều lần. Tùy chọn khởi động Windows sẽ xuất hiện với nhiều chọn lựa. Kế tiếp, chọn Safe Mode để Windows khởi động ở chế độ Safe mode. Safe mode sẽ tải Windows XP với mức độ hạn chế nhất của driver và các phần mềm tự khởi động cùng Windows. Bằng việc thử nghiệm này, ta sẽ lọc ra được trường hợp lỗi từ phần mềm ứng dụng và driver.

Tiện ích System restore trong Windows rất cần thiết khi cần khôi phục lại hệ thống trước khi bị lỗi.
* Cách xử lý: Chạy các chương trình diệt virus, spyware như Ad-Aware, Spybot Search & Destroy... nếu sau khi quét mà phát hiện ra các virus, spyware lây nhiễm trong hệ thống, loại trừ chúng rồi khởi động lại hệ thống.

Nếu cách trên vẫn không khắc phục được, ta khởi động trở lại hệ thống ở chế độ Safe mode. Bước kế tiếp này sẽ sử dụng đến chức năng khôi phục lại hệ thống với "System restore". Vào Start - Programs - Accessories - System tools - system restore.

Tiện ích "System restore" dự phòng dung lượng đĩa cứng và tạo một điểm khôi phục mỗi khi bạn cài đặt hay gỡ bỏ phần mềm. Nếu bạn cảm thấy lỗi xuất phát từ việc cài hay gỡ bỏ một phần mềm vào một thời điểm xác định, bạn có thể khôi phục hệ thống trở về thời điểm đó với "System restore".

Tuy nhiên, cần lưu ý là những phần mềm hay thiết lập kể từ thời điểm đó trở đi cũng bị mất, các giá trị registry mới cũng sẽ bị xóa sau khi khôi phục. Ngoài ra, người dùng cũng có thể không cần phải sử dụng "System restore" nếu sau khi bạn cài đặt một driver hay phần mềm nào đó dẫn đến việc hệ thống bị lỗi, thì hãy ngưng hoạt động của chúng và gỡ bỏ ra khỏi hệ thống.

* Xử lý với driver: Với driver các thiết bị phần cứng, bạn có thể lùi (roll-back) chúng trở về phiên bản driver trước hoặc khóa lại. Nhắp phải chuột lên My Computer, chọn Properties và chuyển đến thẻ Hardware và chọn Device Manager. Tại phần này, ta có thể kiểm tra tình trạng hoạt động của chúng (Video card driver nằm trong "Display Adaptors", của sound card nằm trong "Sound card and game controllers" và của bo mạch chủ thì "IDE/ATAPI controllers"). Chọn thiết bị nào muốn kiểm tra, phải chuột và nhấn "Properties", chuyển đến thẻ "Drivers".

Trong thẻ "Driver", có thể dùng tùy chọn "Roll back" để lùi phiên bản driver thiết bị lại phiên bản trước đó hoặc "Uninstall" để gỡ bỏ hoàn toàn driver. Một lưu ý là bạn không nên "Uninstall" driver sound card, video card hay motherboard vì chúng sẽ làm ảnh hưởng đến phần khởi động Windows. Thay vào đó thì bạn nên "roll back" trước.

Device Manager. Roll back driver của thiết bị.

Tùy chọn thứ 2 ta có thể thực hiện là khóa (disable) driver bằng cách phải chuột lên thiết bị trong phần "Device Manager" và chọn "Disable" để ngăn không cho Windows XP tải driver thiết bị khi khởi động. Và cũng như trên, không nên khóa driver của sound card, video card và motherboard.

Nếu công đoạn xử lý này thành công thì bạn nên cập nhật lại driver mới của thiết bị từ CD hay website nhà sản xuất để tránh lỗi.

* Xử lý với phần mềm: Đối với những phần mềm bị lỗi, không tương thích và chúng tự động khởi động khi Windows khởi động dẫn đến việc hệ thống bị lỗi, ta có 2 cách để xử lý.

Cách nhanh chóng và tiện lợi là dùng tiện ích miễn phí AutoRuns của Sysinternal (đã được Microsoft mua lại). AutoRuns sẽ hiển thị toàn bộ những phần mềm (kể cả những tập tin của Windows) được tự động tải khi khởi động. Bằng việc bỏ chọn để ngăn không cho phần mềm, dịch vụ đó được tải lên. Tuy nhiên, bạn cũng lưu ý không được khóa các dịch vụ, tập tin hệ thống của Windows như userini.exe, explorer.exe.

Giao diện AutoRuns. System Configuration Utility.

Cách thủ công hơn là vào Start - Run, gõ "msconfig" rồi chọn thẻ "Startup" trong cửa sổ "System Configuration Utility". Cũng như trên, bạn bỏ chọn các chương trình có nguy cơ làm tổn hại đến hệ thống.





Cơ bản về lỗi "màn hình xanh" trong Windows (phần 2/4)

Nhãn:

Nguyên nhân xuất hiện lỗi "màn hình xanh"
Lỗi "màn hình xanh" trong Windows không chỉ đơn thuần xử lý bằng cách khởi động lại hệ thống.

Bạn cần phải biết nguyên nhân cụ thể để có thể khắc phục được hoàn toàn lỗi nguy hiểm nhất của hệ thống.

Lỗi BSOD trong Windows XP thường rơi vào một trong năm trường hợp sau:

1. Lỗi phần mềm: Lỗi xuất phát từ các phần mềm ứng dụng hoặc driver của thiết bị trên hệ thống có thể bị lỗi thường xuyên.

2. Lỗi phần cứng khi Windows vận hành: Nếu một thiết bị phần cứng gặp sự cố hoặc bị gỡ bỏ khỏi hệ thống trong khi Windows đang vận hành, hay phần cứng của bạn không hoàn toàn hỗ trợ những hoạt động mà Windows XP yêu cầu, lỗi màn hình xanh về phần cứng sẽ xuất hiện. Thông tin BIOS lỗi thời trên các máy tính cũ có thể cũng là một nguyên nhân.

3. Lỗi cài đặt: Tiến trình cài đặt Windows là khoảng thời gian dễ bị tổn thương của phần cứng và các lỗi ổ cứng. Nếu có một sự cố trên máy tính của bạn về cấu hình phần cứng hay môi trường mà bạn sử dụng để cài đặt Windows XP, lỗi BSOD sẽ xuất hiện.

4. Các lỗi khởi động: Hư hỏng các tập tin hệ thống, phần cứng và lỗi driver đều có thể là nguyên nhân Windows XP hiển thị lỗi BSOD thay vì khởi động như bình thường. Những trường hợp này bắt buộc hệ thống phải được xử lý trước khi có thể khởi động bình thường.

5. Các lỗi bất thường: Đây là nguyên nhân phổ biến nhất của lỗi "màn hình xanh" BSOD. Những "thủ phạm" chính bao gồm: trục trặc trong bộ nhớ hệ thống, nhiệt độ vi xử lý quá nóng, ổ cứng bị lỗi vật lý hoặc sắp hỏng, lỗi phần mềm hay driver.

Việc tìm ra nguyên nhân chính xác trong 5 trường hợp phổ biến vừa nêu đòi hỏi bạn phải có trình độ về kỹ thuật và am hiểu về hệ thống (phần cứng lẫn phần mềm). Một tiếng kêu rột roạt đứt quãng của ổ cứng là điềm báo cho lỗi hư hỏng về đầu từ quay hay thường xuyên treo hoặc khởi động lại máy thì bạn nên kiểm tra lại nhiệt độ trong thùng máy... Những trường hợp này thường là từ kinh nghiệm sử dụng. Do đó, nếu không xử lý được thì tốt nhất bạn vẫn nên nhờ đến các chuyên viên kỹ thuật.

Bạn có thể tham khảo thêm nhiều thông tin rất chi tiết tại website Aumha.org để biết cụ thể lỗi màn hình xanh. Trang web cũng liên kết theo từng trường hợp đến thư viện MSDN của Microsoft rất hữu ích.





Cơ bản về lỗi "màn hình xanh" trong Windows (phần 1/4)

Nhãn:

Đối với người dùng Windows 98 ngày trước và cả những phiên bản Windows 2000/XP, "màn hình xanh" không phải là điều xa lạ.

Màn hình xanh đem lại "điềm xấu" cho cả phần cứng lẫn phần mềm trên hệ thống của bạn. Tuy nhiên, cũng có thể nhận biết và xử lý khi gặp "màn hình xanh chết chóc" này.

"Màn hình xanh chết chóc" hay "Blue Screen Of Death" (BSOD) là thuật ngữ dùng để diễn tả về việc ngưng trệ toàn bộ hoạt động của hệ thống và xuất hiện màn hình thông báo lỗi có màu xanh dương, với những dòng chữ "khó hiểu" thông báo các lỗi (Ví dụ: FILE_SYSTEM, 0x00000022).

Lỗi có thể xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau như: trục trặc về driver thiết bị, bộ nhớ bị lỗi, registry hư hỏng... và nếu may mắn, hệ thống sẽ tự sửa chữa lại sau khi reboot hệ thống. Tuy nhiên, lỗi "màn hình xanh" thường gây ra cảm giác bất an của ngày cận kề "cái chết" của hệ thống. Do đó, việc tự khám phá và khắc phục chúng là rất quan trọng.

Lỗi "màn hình xanh" xuất hiện khi Windows tìm thấy một lỗi hoặc một vấn đề hỏng hóc nào đó (phần cứng lẫn phần mềm) mà nó không thể khắc phục được. Ngay lập tức Windows sẽ ngưng toàn bộ hoạt động, tiến hành chẩn đoán thông tin "bệnh" của hệ thống và hiển thị màn hình xanh. Trong phiên bản Windows XP thì những nội dung của bộ nhớ PC được kết xuất vào một tập tin để có thể phân tích về sau.

Đọc "màn hình xanh" (BSOD)

Một lỗi màn hình xanh thông thường trong Windows XP được chia làm 4 phần và đôi khi chúng hiển thị những đầu mối dẫn đến việc phát sinh lỗi.

Phần kiểm tra hiển thị số lỗi với định dạng hệ thập lục phân (hexadecimal) và thông tin tại sao hệ thống xuất hiện BSOD, theo ví dụ là: "DRIVER_IRQI_NOT_LESS_OR_EQUAL".

Phần thứ 2 là phần khuyến cáo người dùng nên làm gì khi gặp lỗi BSOD. Tuy nhiên, đây chỉ là khuyến cáo chung để tham khảo các bước xử lý cho mọi lỗi phát sinh BSOD. Công đoạn khởi động lại hệ thống (reboot) luôn là cách thức đầu tiên và tốt nhất để thoát khỏi màn hình xanh.

Phần thứ 3, thông tin driver, có thể hàm chứa những thông tin "sống còn". Nếu thật sự tập tin driver có liên đới với màn hình xanh, nó sẽ được hiển thị tại phần này.

Phần thứ 4 cuối cùng của màn hình lỗi là cổng sửa lỗi (debug) và thông tin trạng thái.

Windows XP sẽ kết xuất những nội dung của bộ nhớ hệ thống vào một tập tin trên ổ đĩa cứng hoặc vào một trong những cổng COM. Ta sẽ tiếp tục tìm hiểu nguyên nhân cụ thể dẫn đến lỗi BSOD và cách xử lý cho từng trường hợp ở phần sau.





Khai khác các tiện ích trong Windows XP

Nhãn:

Hệ điều hành Windows XP hiện ngày càng phổ biến. Trong Windows XP có khá nhiều tiện ích hay nhưng không phải người dùng nào cũng có thể tìm hiểu khai thác hết các tiện ích đó.

DRIVER VERIFIER

Có bao giờ bạn tự hỏi các driver đã được cài đặt trên máy tính của mình làm việc thật tốt? Nó thuộc phiên bản cũ hay mới? Liệu phiên bản mới sắp cài đặt có ổn định như phiên bản cũ hay không? Nếu vậy hãy nhờ đến tiện ích Verifier trong Windows XP Professional.

Hình 1

Thực hiện:

Vào Start->Run, tại cửa sổ Open gõ vào Verifier. Hộp thoại Driver Verifier Manager sẽ xuất hiện như hình 1.

Chọn 1 trong 5 tác vụ muốn thực hiện. Bạn không cần quan tâm đến mục chọn Create Custom settings (for code developers) trừ khi bạn là người tạo ra driver và muốn kiểm tra. Bạn có thể chọn Create standard settings và nhấn Next. Cửa sổ mới sẽ hiện các mục chọn sau:

Automatically select unsigned drivers: Tự động kiểm tra những driver không được nhận diện.

Automatically select drivers built for older versions of Windows: Tự động kiểm tra driver đã tạo ra cho phiên bản cũ hơn (so với phiên bản hiện thời) của Windows.

Automatically select all drivers installed on this computer: Tự động kiểm tra tất cả các driver đã được cài đặt vào máy.

Select drivers names from a list: Lựa chọn driver trong danh sách
Danh sách tương ứng với tùy chọn trên được hiển thị như hình 2. Ở đây là danh sách những driver không được nhận diện (unsigned).

Hình 2

Lưu ý: Đối với hệ điều hành Windows XP Service Pack 1, việc thực hiện như trên có thể sẽ làm Windows không khởi động được do xung đột driver. Trong trường hợp này, bạn khắc phục như sau:

Khởi động lại máy

Ấn phím F8 khi được yêu cầu, ở danh sách hiện ra bạn chọn 'Last known good...'.
Khởi động lại và Windows sẽ trở lại làm việc bình thường.

SYSTEM FILE CHECKER (SFC)

Đây là 1 tiện ích rất hay có sẵn trong Windows XP Professional. Bất cứ khi nào bạn muốn kiểm tra các file hệ thống hoặc khi máy có sự cố với các file hệ thống vì lý do nào đó thì hãy sử dụng tiện ích này. Công việc của SFC là rà soát và thay thế những file hỏng, lỗi... Hầu hết các file mà SFC kiểm tra là EXE, DLL, TTF, SYS, FON...

Lưu ý: Thực chất đây là quá trình so sánh file hiện có với file gốc trong đĩa cài đặt Windows XP nên bạn cần đưa đĩa vào khi quá trình kiểm tra file bắt đầu.

Thực hiện:

Vào Start->Run, gõ vào cmd. Khi cửa sổ đen hiện ra, bạn gõ tiếp SFC ngay dấu nháy. Một danh sách hiện ra:

/SCANNOW

Quét hết các file hệ thống ngay tức thì.

/SCANONCE

Quét hết các file hệ thống vào lần khởi động kế tiếp.

Hình 3

/SCANBOOT

Quét hết các file hệ thống mỗi khi khởi động máy.

/REVERT

Quá trình quét file về dạng mặc định.

/PURGECACHE

Thanh lọc các file CACHE

/CACHESIZE=x

Đặt lại kích cỡ cho file CACHE

Bạn chọn 1 mục tương ứng, ví dụ:

C:\>sfc/scannow

Cửa sổ Windows File Protection xuất hiện (hình 3), tiến độ kiểm tra file bắt đầu. Khi gặp file, folder bị trục trặc, SFC có nhiệm vụ tìm và thay thế.

Backup - Restore: Lưu trữ - Phục hồi

Hình 4

Việc sao chép file cho máy tính cực kỳ quan trọng, bởi tất cả các file quan trọng vì 1 lý do nào đó (do virus tấn công chẳng hạn) có thể sẽ... 'tan thành bọt nước'.

Bạn có thể sử dụng nhiều phần mềm cho việc sao lưu, phổ biến nhất là Norton Ghost 2003. Nhưng nếu chưa có hoặc chưa thành thạo Norton Ghost 2003 bạn có thể sử dụng chức năng lưu trữ phục hồi có sẵn ngay trong Windows XP Professional.

Backup: Tạo file lưu trữ phòng khi hệ thống trục trặc.

Lưu ý: Để thực hiện được công việc này bạn phải đăng nhập với quyền Administrator hoặc bạn phải là người sở hữu các file, folder muốn lưu trữ.
Thực hiện:

Vào Start.Program.Accessories.System tools.Backup.Next. Cửa sổ Backup or Restore winzard xuất hiện. (Hình 4)

Chọn Back up files and settings rồi nhấn Next

Chọn các mục bạn muốn lưu trữ trong What to Back Up rồi nhấp Next (Hình 5).

Hình 5

Chọn ổ đĩa chứa file lưu trữ bằng cách nhấn Browse (chương trình luôn được mặc định là ổ A). Đặt tên cho file lưu trữ trong ô Type a name for this backup. Nhấn Next->Finish để bắt đầu thực hiện công việc tạo file lưu trữ. (Hình 6)

Gặp sự cố với file hệ thống, bạn chỉ cần 'bung' file lưu trữ. Thực hiện như sau:

Vào Start.Program.Accessories.System tools.Backup.Next.

Trong cửa sổ Backup or Restore (hình 6), chọn: Restore files and settings.

Bạn tìm đến nơi 'cất' file lưu trữ, sau đó nhấn Next để phục hồi.

Restore: Phục hồi lại hệ thống tại 1 thời điểm định sẵn hoặc thời điểm gần nhất.

Để thực hiện được chức năng này bạn phải chắc System Restore đang hoạt động.

Thực hiện:

Vào Start.Program.Accessories.System tool.System Restore. Chọn Create a restore point: Đánh dấu thời điểm phục hồi. (Hình 7)

Hình 6

Hình 7

Nhấn Next để tiếp tục. Gõ 1 tên tùy ý vào Restore point description, mục đích là để mô tả thời điểm phục hồi. (Hình 8)

Thực hiện xong bạn nhấn Home để quay trở lại bảng System Restore ban đầu.

Chọn Restore my computer to an earlier time->Next. Bạn sẽ nhìn thấy thời điểm phục hồi đã tạo (hình 9). Nhấn Next để bắt đầu công việc phục hồi hệ thống. Khi phục hồi bạn đừng tranh thủ làm việc gì khác với PC, sau khi hoàn tất thì khởi động lại máy.

Tiện ích cuối cùng mà tôi muốn giới thiệu là Recovery Console.

Recovery Console: Với tiện ích này bạn có thể sửa chữa hệ thống, định dạng đĩa, sử dụng hay không sử dụng các dịch vụ. Có thể bạn ít quen thuộc với Recovery Console bởi một điều dễ hiểu là do nó không được cài đặt khi bạn chạy SETUP của Windows XP Professional.

Để có thể sử dụng Recovery Console bạn phải đăng nhập với quyền Administrator và phải là người dùng am hiểu hệ thống (power user).

Recovery Console cho phép sao chép file từ phương tiện lưu trữ vào phân vùng hệ thống (System Partition) nhưng làm ngược lại thì hoàn toàn không được. Còn nữa, mặc dù bạn có thể di chuyển đến các ổ đĩa logic nhưng bạn không thể đọc được file trên bất kỳ phân vùng nào ngoại trừ phân vùng hệ thống. Recovery Console rất nguy hiểm vì '1 bước đi cấm kì quay lại' bởi vậy bạn phải hiểu rõ nó. Nếu sai lầm thì chỉ có cách cài đặt lại Windows mà thôi.
Vì bài viết có hạn nên tôi chỉ xin giới thiệu một số điểm chính.

Hình 8

Hình 9

Thực hiện:

Khởi động (boot) bằng đĩa CD cài đặt Windows XP Professional. Khi thấy thông báo: Press any key to boot from CD, bạn nhấn phím bất kì để tiếp tục.

Khi nhìn thấy thông báo 'Welcome to setup', bạn nhấn phím 'R' để chạy Recovery Console. Chú ý, nếu máy có cài đặt nhiều hệ điều hành hoặc nhiều bản cài đặt XP (Dual Boot hoặc là Multiple Boot), bạn phải chọn bản cần dùng từ Recovery Console.

Khi Recovery Console nhắc, bạn gõ vào password của Administrator.

Tại dấu nhắc lệnh của Recovery Console, bạn gõ: sau đó để hiện danh sách tất cả dịch vụ và driver đã được cài đặt cho bản Windows XP trước đó. Gõ: sau đó để hiện danh sách các lệnh của Recovery Console.




Mua buôn, bán lại trên Ebay (phần 6/6)

Nhãn:

C. Cộng đồng người mua kẻ bán

Mẹo - Bạn có thể dễ dàng tìm thấy nhà phân phối trên những website dưới đây, sau đó để ý quan sát một chút bạn có thể bán lại những mặt hàng này cho những người mua khác cũng ở trên site này, thu về chút đỉnh lợi luận. Sau khi nhận hàng từ người bán, bạn hãy đăng một quảng cáo rao bán chúng với mức giá cao hơn mức gía bạn đã trả. Phần quảng cáo của người đã bán hàng cho bạn sẽ bị đẩy lùi xuống và không còn xuất hiện sau một vài ngày. Nhiều lúc bạn sẽ tìm được những người sẵn sàng trả ở mức giá cao hơn mức bạn đã trả, và họ thậm chí không biết rằng, chỉ cách đây vài ngày, bạn vừa mới mua mặt hàng này từ một người bán hàng khác trên cùng website này. Điều này thật tuyệt bởi bạn thậm chí không bao giờ phải dỡ hàng đã mua ra khỏi kiện. Tất nhiên bạn cũng có thể dỡ kiện hàng để bán lẻ với những số lượng khác nhau, hoặc bán từng đơn vị độc lập trên những site đấu giá như eBay, hoặc bạn có thể bán ngay lại quầy bán lẻ của mình và thu lời lớn.

1.Alibaba.com
Alibaba là một trang giao tiếp hàng đầu giữa người mua và người bán trên Internet. Mỗi ngày có hàng trăm nghìn lượt khách trup cập và hàng trăm mẫu quảng cáo thương mại mới được đăng. Bạn nên truy cập trang này mỗi ngày hoặc đăng ký nhận thư thông báo về những mặt hàng bạn đang buôn bán.

Mục tiêu của bạn là làm ăn với những công ty Alibaba đã được chứng nhận Trustpass. Bản thân bạn cũng có thể trở thành một thành viên Trustpass của Alibaba. Chỉ mới một khoản phí nhỏ, Alibaba sẽ cử một đại diện tín dụng thứ ba liên lạc với bạn và xác minh tên tuổi, địa chỉ và thông tin về công ty của bạn. Một khi bạn trở thành thành viên Trustpass của Alibaba thì mọi người sẽ có cái nhìn nghiêm túc hơn đối với bạn.

2.Exporter Singapore
Tương tự như Alibaba.com, nhưng trang này yêu cầu thành viên phải trả phí sau 30 ngày dùng thử, nhằm loại bỏ những kẻ bịp bợm.

3.Power Source Online
Power Source Online là nơi giao dịch buôn bán linh kiện máy tính cho những nhà buôn, nhà môi giới hoặc các công ty dịch vụ. Bạn có thể tìm thấy ở đây những linh kiện máy tính giá rẻ và nhiều phụ kiện khác.

Chú ý – Danh sách những cộng đồng được liệt kê dưới đây tương tự như Alibaba, ít giao dịch hơn, tuy nhiên bạn nên xem xét và tham gia càng nhiều càng tốt, bởi rất có thể bạn sẽ tìm được những nhà cung ứng trên thị trường ngách.

4 EC 21
5 eTradeShow
6 Global Sources
7 eBiz Asia link
8 EC Plaza
9 Rusbiz
10 Importers.com
11 Trade India
12 Fuzing
13 Offer 21

D. Những nguồn bán buôn hữu ích
1 Export 911 - Những thuật ngữ xuất nhập khẩu thông dụng
2 Local profit - Một công cụ tìm kiếm bán buôn
3 Uline - Cung cấp vận tải chiết khẩu
4 eBay Discussion Board – Escrow / Diễn đàn thương mại quốc tế cho bạn những lời khuyên giá trị phòng ngừa gian lận.





Mua buôn, bán lại trên Ebay (phần 5/6)

Nhãn:

B. Danh sách những nhà cung cấp bán buôn.
1.Worldwide Brands
Tôi đánh giá Worldwide Brands là nhà cung cấp trực tiếp hằng đầu của chúng tôi, không chỉ bởi hàng hoá của họ lên tới con số, mà họ còn GIAO HÀNG cho bạn. Điều này có nghĩa họ giao hàng đến cho khách hàng của bạn, bạn không cần phải lưu kho và vận chuyển hàng. Họ là nguồn bán buôn DUY NHẤT có được danh hiệu Nhà cung ứng giải pháp chứng nhận bởi eBay (Certified Solution Provider)

2. NAWCA
NAWCA (Hiệp hội bán buôn Bắc Mỹ) là một nguồn hấp dẫn với hơn 100.000 sản phẩm và 2000 nhà phân phối, rất nhiều trong số họ thực hiện nghiệp vụ GIAO HÀNG cho bạn. NAWCA được thành lập vào năm 2001 bởi một hội các nhà bán buôn và nhà phân phối. Hiệp hội này được đánh giá rất cao.

3.Ingram Microsoft Corporation
Ingran Micro là nhà phân phối điện tử lớn thứ hai trên thế giới. Họ hoạt động có đẳng cấp và giá cả của họ phải chăng.

4Tech Data
Là trung tâm phân phối điện tử khổng lồ ở Mỹ

5.Avus
Là nhà phân phối đáng giá 1,3 triệu đôla ở Mỹ

6. Liên minh điện tử
Nắm giữ khoảng trên 135,000 linh kiện điện tử

Tôi tìm ra những nhà phân phối độc lập này thông qua các cộng đồng thương mại được liệt kê trong phần sau. Thú thật, trước đó tôi đã để mất hàng núi tiền vào tay những nhà phân phối lừa đảo. Riêng cái danh sách nhắn gọn này đã đáng giá hàng nghìn đô la đối với những người biết được rằng phải khó khăn thế nào mới tìm được những nhà phân phối hợp pháp những sản phẩm BÁN CHẠY ở mức giá cực kỳ hợp lý (xem trang sau)

7.MKidder Enterprises
Liên hệ: Matthew Leeder
Email: Mleeder@mkidderenterprises.com
W1961 Tear Drop La., Kaukauna, Wisconsin, 54130, Unitedstate.
Leederkidder89.trustpass.alibaba.com
Ph: (920) 202- 2668

8.DnM Imports
Liên hệ: Derek Clark
Email: derek@dnmimports.com
Plasma Television, iPods, PSP and Notebook Computer. Gia mau o
261 Oakridge Drive, Cartersville, Georgia, 30121, United States
www.dnmimports.com
Ph: (770) 500-8828 – Fax: (770) 386-0955 – Mobile: (678) 471-5853

9.April Hutchenson
Liên hệ: April
Email: hutchmysale@ntelos.net
Covington, Virginia, 24426
Ph: (540) 962-2712





Mua buôn, bán lại trên Ebay (phần 4/6)

Nhãn:

Quy tắc #4 – Tự xác minh tư cách. Để khuyến khích người bán tin rằng bạn là một người mua hợp pháp và trung thực, bạn nên thực hiện theo những cách sau:

1.Có số DnB. Để làm được điều này bạn phải đăng ký một tài khoản “người xây dựng tín dụng” ở trang dnb.com. Dun&Bradstreet sẽ xác minh thông tin về công ty của bạn bao gồm tên, địa chỉ, chủ sở hữu, những khoản nợ tới hạn (thẻ tín dụng) hay dòng tín dụng của công ty.
2.Được Paypal xác minh. Mở một tài khoản Paypal. Một khi đã có tài khoản, đăng ký để trở thành thành viên cao cấp đủ tư cách. Paypal sẽ xác minh lại địa chỉ và giấy chứng minh thư của bạn bằng cách chuyển hai khoản tiền ký thác nhỏ vào tài khoản ngân hàng hoặc thẻ tín dụng của bạn. Sau đó ,bạn phải cho họ biết đó là những khoản ký thác nào để chứng minh rằng bạn là chủ sở hữu của chiếc thẻ và tài khoản đó.
3.Trở thành thành viên của Alibaba Trustpass – xem danh sách những nguồn bán buôn phía dưới để biết thêm thông tin.
4.Nếu bạn đang ở Mỹ,hãy trở thành thành viên của Hiệp hội trực tuyến thúc đẩy hoạt động kinh doanh tốt đẹp hơn ( Better bussiness Bureau Online)

Quy tắc #5 - Mở một tài khoản với Readnotify.com. Chỉ với 3,99$ một tháng hoặc 24,00$ một năm, Readnotify sẽ cho bạn biết nguồn gốc thực sự của những email mà bạn nhận được từ bất kỳ người bán hàng nào. Nó làm việc như sau: nếu bạn gửi email cho tôi ở địa chỉ info@therichjeck.com, thì thay vào đó bạn đã gửi tới địa chỉ info@therichjeck.com.readnotify.com . Bằng cách thêm readnotify.com vào mỗi địa chỉ email bạn gửi đi thì ngay khi người nhận mở email , bạn sẽ nhận được một email thông báo cho bạn chính xác thời gian mà người đó mở email cũng như vị trí của họ trên thế giới. Ví dụ, bạn sẽ biết tôi đang ở California, USA. Và người nhận sẽ không nhìn thấy phần mở rộng readnotify.com trong địa chỉ email bạn gửi cho họ. Nó sẽ được ẩn đi.

Readnotify.com là một công cụ cực kỳ hữu ích bởi đa phần người bán đều khẳng định họ đang ở Mỹ hoặc Anh nhằm tăng tính bảo đảm, chứ không phải họ đang cư trú ở những nước nổi tiếng với những trò lừa đảo qua mạng như Indonexia hay Ru-ma-ni. Khi tôi sử dụng công cụ này và phát hiện ra ai đó đang nói dối vị trí của mình thì tôi sẽ không tiến hành kinh doanh với họ nữa. Bạn cũng sẽ bắt gặp rất nhiều kẻ lừa đảo đến từ Ru-ma-ni và Indonexia, nhưng lại khẳng định mình đang ở Mỹ hoặc Anh. Họ cũng rất khả nghi bởi 99% số lần họ đều yêu cầu bạn thanh toán qua Western Union,và sử dụng một trong những trò lừa đảo quen thuộc mà tôi đã từng đề cập.

Quy tắc #6 - Nếu người bán nói với bạn rằng họ có một website thì bạn hãy tiến hành một kiểm tra “whois” trên website để xem liệu tên và địa chỉ của người bán có tương thích với hồ sơ lưu đăng ký internet của người sở hữu web. Bạn có thể dễ dàng làm được việc này bằng cách vào trang GoDaddy.com. Trượt xuống cuối trang và chọn đường link “whois”. Hãy truy cập, và GoDaddy sẽ cho bạn biết ai là người đăng ký tên miền này.





Mua buôn, bán lại trên Ebay (phần 3/6)

Nhãn:

Quy luật mua buôn #3 – Luôn luôn yêu cầu hình thức thanh toán cho người bán bằng một trong những phương thức sau:

1.Thẻ tín dụng
An toàn bởi hầu hết các công ty thẻ tín dụng sẽ hoàn trả tiền nếu bạn đệ đơn kiện có hành vi lừa đảo.

2.Escrow.com
An toàn bởi nó bảo vệ quyền lợi của cả người mua và người bán như đã đề cập ở quy luật #2

3.Paypal.com
Thông thường sẽ an toàn nếu bạn mua hàng dưới 2000$, bởi Paypal cho phép bạn sử dụng một thẻ tín dụng và sẽ xác minh địa chỉ, thông tin ngân hàng và chứng minh thư của người bán ( sẽ không chuyển tiền cho ai đó thông qua Paypal nếu họ nằm trong danh sách “không được xác minh”).

4.Thư tín dụng (LC)
Về cơ bản, đây là hình thức ngân hàng của bạn đươc sử dụng như một dịch vụ Escrow. Ví dụ, bạn sẽ đi đến ngân hàng, lập một thư tín dụng cho số đô la mà bạn cần phải trả cho người bán. Ngân hàng sẽ đóng băng số tiền này trong tài khoản của bạn, và phát hành một thư tín dụng cho bạn và ngân hàng của người bán nhằm xác minh rằng họ đang nắm giữ số tiền này, và sẽ chuyển nó tới tài khoản ngân hàng của người bán ngay khi hàng được đảm bảo đã giao tận người mua. Hãy chắc chắn rằng bạn đang sử dụng một thư tín dụng “Dự phòng”.

5.Trả tiền khi giao hàng (COD)
Khi hàng hoá được giao đến nơi bạn sẽ trực tiếp trả tiền cho công ty vận tải. Công ty vận tải sau đó sẽ chuyển số tiền này cho người bán. Công ty vận tải sẽ không giao lại hàng hoá cho bạn trừ phi bạn trả tiền đầy đủ.

Phải hết sức cẩn trọng khi một người bán nào đó yêu cầu bạn thanh toán trước bằng T/T (chuyển tiền bằng điện). Bạn phải tỉnh táo bởi có nhiều tập đoàn bán hàng quốc tế hợp pháp yêu câu thanh toán tiền trước bằng TT. Đôi khi chỉ là một khoản tiền đặt cọc, đôi khi họ lại yêu cầu toàn bộ. Trước khi gửi tiền bằng T/T, bạn phải chắc chắc nắm được những thông tin sau:

-Tên đầy đủ của người bán
-Địa chỉ của người bán
-Số điện thoại của người bán
-Tên công ty của người bán
-Số giấy phép kinh doanh của người bán
-Số điện thoại và tên ngân hàng của người bán
-Một bản scan hoặc copy fax thẻ chứng minh thư va giây phép lái xe của người bán
-Tài liệu về công ty nơi người bán đã từng làm việc trước đó, tốt hơn là trong đất nước của bạn

Nói với người bán rằng bạn cần những thông tin này để tiến hành kiểm tra kỹ lưỡng mọi vấn đề. Sau đó bạn có thể sử dụng một dịch vụ như là Intellius.com để tiến hành cuộc kiểm tra này. Bạn có thể thuê một đại lý mua hàng trên đất nước của người bán, yêu cầu họ đến trực tiếp cửa hàng của người bán để mua những mặt hàng bạn yêu cầu, rồi giao số hàng đó cho bạn. Thực hiện thao tác tìm kiếm “đại lý mua hàng quốc tế” trên Google để xác định những đại lý mua hàng nào mà bạn khả năng hợp tác. Đa số sẽ yêu cầu bạn trả một khoản phí để đảm bảo an toàn việc mua hàng cho bạn.





Mua buôn, bán lại trên Ebay (phần 2/6)

Nhãn:

Qui luật mua buôn 2 - Đừng bao giờ sử dụng một dịch vụ escrow nào ngoài Escrow.com. Escrow.com được eBay thẩm định và khuyên dùng, và bản thân tôi cũng đã nhiều lần sử dụng thành công. Chú ý rằng Escrow sẽ thực thi mọi giao dịch trên phạm vi toàn thế giới trừ Ấn Độ và Indonexia. Những trò gian lận nhan nhản khắp nơi trên hai nước này khiến cho việc giao dịch của bạn với người bán trở nên kém an toàn.

Việc Escrow làm là yêu cầu cả người mua và người bán nhất trí với những điều khoản. Người mua sẽ phải chuyển một khoản tiền bắt buộc đến Escrow. Ngay khi Escrow nhận được khoản tiền này, họ sẽ thông báo để người bán giao hàng. Ngay khi người mua nhận được hàng, nếu mọi thứ không có vấn đề gì, người mua sẽ thông báo Escrow chuyển số tiền đăt cọc cho người bán.

Dịch vụ Escrow an toàn cho cả người mua và người bán bởi người mua không phải giao tiền trực tiếp cho người bán cho đến khi họ nhận được hàng và kiểm tra ổn thoả mọi thứ. Nó cũng an toàn đối với cả người bán bởi thận trong trường hợp một người mua cố tình tuyên bố là họ không nhận được hàng thì người bán có thể cung cấp cho Escrow số hiệu vận tải của lô hàng và một bảng kê khai hàng hoá để chứng minh rằng hàng đã được gửi đi và kí nhận. Trong những trường hợp này, Escrow sẽ chuyển tiền đặt cọc cho người bán.

Trò lừa Escrow #1: Người bán nói với người mua rằng họ thích một escrow khác không phải là Escrow.com. Người bán sẽ cung cấp cho người mua địa chỉ web của công ty esrow đó và nói rằng đây là công ty escrow duy nhất mà họ tin tưởng. Người mua sẽ truy cập vào trang web đó, trông nó cũng hợp pháp, thiết kế chuẩn và hứa hẹn một sự an toàn và bảo mật.

Lừa ở đâu: Thực chất website đó do người bán, hoặc là đồng minh của họ sở hữu và điều hành. Ngay khi người mua chuyển tiền đến cái gọi là công ty “esrow”, thì thực tế họ đã chuyển tiền của mình thẳng vào túi những kẻ lừa đảo.

Trò lừa đảo Esrow #2: Người bán nói rằng họ sẽ thực hiện thương vụ một các an toàn thông qua Squaretrade.com.

Lừa ở đâu: Squaretrade không cung ứng dịch vụ escrow. Họ không phê chuẩn hợp đồng hoặc giữ quỹ cho bất kỳ đối tượng nào.Square chỉ cho phép những nhà bán hàng trên eBay đóng dấu Squaretrade trên những sản phẩm đấu giá họ, điều này cho thấy những nhà bán hàng trên eBay sẵn sàng cho phép Square tham gia giải quyết những tranh chấp. Bất kì ai nói rằng họ sử dụng Square như một dịch vụ escrow là lừa bịp. Người bán thậm chí có thể gửi cho người mua một email “giả”, giống như nó được gửi đến trực tiếp từ
Square. Song, chỉ là giả mạo.

Trò lừa bịp Escrow 3 - Người bán nói với người mua rằng họ sẽ sử dụng dịch vụ vận tải hàng hải gọi là “TNT”, và rằng người mua sẽ chuyển tiền thanh toán đến TNT. Trong trường hợp này TNT sẽ giữ số tiền cho đến khi họ kiểm duyệt và vận chuyển hàng đến cho người mua.

Lừa ở đâu: TNT không phải là một dịch vụ escrow. Họ không thay mặt ai để làm công việc giữ tiền đặt cọc hay là kiểm duyệt việc vận chuyển hàng. Người bán thậm chí có thể gửi cho người mua một email “giả”, giống như nó được gửi đến trực tiếp từ TNT với số hiệu vận tải của lô hàng. Song, nó chỉ là giả mạo.





Mua buôn, bán lại trên Ebay (phần 1/6)

Nhãn:

Nếu bạn muốn kiếm tiền từ việc buôn bán hàng hoá trên ebay, tôi sẽ bật mí cho bạn một vài mẹo cơ bản. Nhưng trước tiên bạn phải chuẩn bị tinh thần để thực hiện những công việc đích thị là lao động tay chân nhàm chán như đóng gói và vận chuyển hàng hóa. Nhưng nếu như bạn có đủ quyết tâm thì bạn có thể thu được lợi nhuận tối thiểu 15k – 30k$ một tháng bằng việc mua những loạt sản phẩm đang bán chạy như tôm tươi từ nhà bán buôn này sau đó bán lại cho những nhà bán buôn khác hoặc là bán lẻ trên eBay. Rất nhiều người khẳng định sẽ cung cấp cho bạn danh sách những nhà bán buôn, những nhà cung cấp hàng đầu, v…v, tuy nhiên bạn đừng bận tâm là gì. Nguồn thông tin của họ hoàn toàn không đáng tin cậy và 99% bọn họ là những tay lừa đảo. Những nhà cung cấp và những mẹo tôi cung cấp cho bạn dưới đây là đáng tin cậy hơn cả.

A. Những quy tắc khi mua buôn
Thứ nhất, bạn phải tuân thủ một số quy tắc nền tảng giúp bạn tiết kiệm thời giờ và tiền bạc. Song thật không may là mọi người lại vi phạm những quy tắc này hằng ngày và để tuột mất hàng nghìn đô la vào tay những kẻ lừa đảo.

Quy tắc thứ nhất - Đừng bao giờ mua hàng từ bất kỳ ai yêu cầu bạn thanh toán qua Western Union. Nếu họ đòi hỏi như vậy thì bạn đừng đáp lại và hãy khoá ngay địa chỉ email của họ. Tôi biết giá thành hạ khiến hàng hoá của họ rất hấp dẫn bạn, song đó LUÔN là một cạm bẫy. Dưới đây là những lời khuyên trên website của Western Union:

Bạn phải biết chắc chắn người bạn đang gửi tiền là ai. Nếu bạn đang mua sắm hàng hóa hoặc dịch vụ và thanh toán thông qua mạng lưới của Western Union, thì trách nhiệm của bạn là phải xác minh danh tính và tính hợp pháp của người bán. Western Union không chịu trách nhiệm về chất lượng hoặc việc giao hàng đúng thoả thuận của bất kỳ hàng hoá hay dịch vụ nào.

Những trò lừa đảo quen thuộc qua Western Union, tuy nhiên không phải là chỉ có thế

Trò lừa #1: Người bán yêu cầu bạn thanh toán qua Western Union và nói rằng nó sẽ an toàn bởi bạn có thể lấy tên của bạn bè hoặc họ hàng làm tên người nhận trên phiếu thanh toán, tuy nhiên địa chỉ nhận phải là của người bán. Sau đó, bạn sẽ cung cấp cho người bán mã số của phiếu thanh toán, nhờ đó họ có thể đến Western Union và xác minh khoản thanh toán của bạn. Ngay khi bạn nhận được hàng, bạn sẽ đến Western Union và đổi tên người nhận theo tên thật của người bán để họ có thể đến nhận tiền.

Lừa đảo ở chỗ nào: một khi người bán biết được địa chỉ hoặc mã số của phiếu thanh toán, họ có thể nhân được khoản thanh toán đó và không giao hàng cho bạn nữa. Rất nhiều đại diện Western Union tại nước ngoài không yêu cầu xuất trình giấy chứng minh.

Trò lừa #2: Người bán yêu cầu ban thanh toán qua Western Union và hướng dẫn bạn thực hiện thanh toán sử dụng tính năng “câu hỏi bí mật”. Tính năng này được thiết kế sao cho khi bất kỳ ai đó đến nhận tiền thì đại diện Western Union sẽ hỏi họ câu hỏi bí mật, họ phải đưa ra câu trả lời chính xác để có thể nhận được tiền

Lừa đảo ở chỗ nào: Một lần nữa rất nhiều đại diện Western Union sẽ không đưa ra câu hỏi bí mật, mà họ quan tâm xem liệu người đó có biết địa chỉ và mã số không thôi, đặc biệt là ở ngoài nước Mỹ. Western Union thậm chí còn đưa ra lời khuyên trên website của họ là đừng tin tưởng vào tính năng câu hỏi bí mật.





Những biện pháp tăng tốc cho Windows Vista

Nhãn:

Ảnh: Rohos.

Dù Service Pack 1 nhanh hơn phiên bản gốc nhưng Windows Vista vẫn là một hệ điều hành khó tính. Một số cách sau đây sẽ cải thiện tốc độ Vista lên đáng kể.

1. Dùng ổ USB

Nếu có một ổ USB không hay dùng tới, hãy dành cho việc tăng tốc này. Gắn ổ vào khe USB 2.0. Nếu ổ này đủ nhanh, bạn sẽ thấy một dấu nhắc lệnh xuất hiện, hỏi bạn muốn mở ổ ra hay dùng nó để tăng tốc hệ thống bằng Windows ReadyBoost. Chọn cách thứ 2. Khi tính toán không gian ổ để dùng ReadyBoost, hệ thống gợi ý bạn dành cho ReadyBoost dung lượng gấp 1-3 lần lượng RAM trên máy.

2. Sử dụng thẻ nhớ

Nếu máy tính có khe cắm thẻ SD hay CF, bạn cũng có thể dùng các thẻ này để tận dụng chức năng ReadyBoost.

3. Dọn dẹp ổ cứng

Tăng tốc Vista đồng nghĩa với việc ngăn nó làm chậm hệ thống. Hãy dọn dẹp ổ cứng để loại bỏ những thành phần thừa. Nhấn Start > gõ Cleanup > nhấn Enter. Xác định các file cần dọn đi và nhấn OK. Bạn có thể lặp lại thao tác này để dọn trên nhiều ổ, tùy theo máy.

Để chống phân mảnh đĩa cứng, nhấn Start > gõ Defragmenter > nhấn Enter. Dùng hộp thoại hiện ra để ấn định thời gian chống phân mảnh định kỳ.

4. Đầu tư cho các thành phần

Nhấn chuột phải vào Computer > Properties > nhấn Windows Experience Index. Điểm số thấp ở mục nào là có nghĩa là bạn phải nâng cấp thêm, ví dụ điểm Graphics thấp nghĩa là phải đầu tư thêm card đồ họa.

5. Bỏ sidebar

Thanh công cụ dọc của Vista dù đẹp nhưng làm máy hoạt động khá nặng nề. nếu không cần đến, hãy bỏ nó đi bằng cách nhấn chuột phải vào biểu tượng Windows Sidebar ở khay hệ thống và chọn Exit. Mở Control Panel > Appearance and Personalization > bỏ dấu chọn ở Start sidebar để khi khởi động máy, tiện ích này không được kích hoạt.





Mẹo tối ưu WINDOWS XP thực sự

Nhãn:

I) Bốn bước đầu tiên giúp tăng tốc máy tính:

A) Loại trừ các malware (độc hại): bao gồm Virus, Trojan, Spyware, Adware, Rootkit, chúng là nguyên nhân hàng đầu làm chậm hệ thống của bạn, cần được lọc sạch để tối ưu hiệu suất. Sự thực: Có đến 89o/o người dùng máy PC đểu nhiễm phần mềm gián điệp (spyware).

Malware là từ chung, dùng đề chỉ chúng phần mềm hay mả chương trình xâm nhập hay phá hủy hệ thống máy tính mà không có đồng ý của người sở hữu máy tính.

B) Nên cập nhật tất cả mọi bản sữa lỗi windows, không chỉ vài cái thật cần thiết như bạn thường nghĩ.

Những cập nhật không thiết yếu (non critical)mới lại thật chủ yếu để cải thiện hiệu suất, tương thích và các nét mới sẽ làm gia tăng, rất an toàn để cài vào.

Cập nhật cần có 2 dịch vụ (Automatic update và Background Intelligent Transfer update) thiết lập ở automatic hay manual.

Nếu trong lúc cập nhật driver, windows nói cần phải cập nhật driver cho máy vì đã cũ, bạn nên lờ (ignore) khuyến cáo này đi.

Bạn nên cập nhật driver ở chính hãng sản xuất dù còn là Microsoft non certified (nhưng đã thử nghiệm kỹ bởi chính hãng sản xuất).

C) DirectX: Cập nhật các bản sửa lỗi cho windows sẽ cập nhật luôn Direct X cho bạn, có thể dùng file Dxdiag.exe ở thư mục system 32, coi phải đấy là phiên bản mới nhất chưa qua nhìn dưới thẻ (tab) Direct X version. Direct X 10 chỉ dành riêng cho Vista.

D) Các mẹo hữu ích nhất cho XP:

1) Hiệu quả nhìn ( Visual effects): Mặc nhiên XP thiết lập hiệu quả này rất tốt nhưng lại làm chậm máy tính. Làm sao giữ được vẽ đẹp cho winXP nhưng lại không được quá tệ đây?

Vào Start\Settings\Control Panel\System. Chọn vào thẻ Advanced, rồi đến Performance\Settings nhưng chỉ để lại các nút kiểm sau đây mà thôi:
v Show shadows under menus
v Show shadows under mouse pointer
v Show translucent selection rectangle
v Smooth edges of screen fonts
v Use drop shadows for icons labels on the desktop
v Use visual styles on windows and buttons
ấn apply, rồi OK .

Trong trường hợp dùng laptop hay LCD, bạn nên chọn Cleartype để nhìn rõ các font chữ hơn: Vào Control panel, chọn Display, tab Appearance, rồi nút effect, chọn Use the following method to smooth edges of screen fonts và chọn Clear type.

2) File hoán chuyển:

WinXP dùng System manage (hệ thống tự quản lý) mặc nhiên, rất tốt và bạn cứ để nguyên như vậy.

3) Bất hoạt Indexing service: dù tìm file nhanh hơn nhưng nếu để nguyên như vậy, sẽ làm chậm hệ thống vì chiếm nhiều chỗ ở file hoán chuyển và thời gian sử dụng CPU.
ấn nút phải My computer chọn manage, rồi Service, chọn Disable Indexing service .

4) Bất hoạt âm thanh Windows: vì chúng ảnh hưởng nhiều nhất đến khởi động và tắt windows. Vào Control panel, chọn Sounds and Audio devices, rồi tiếp là thẻ Sound và dưới Sound schemes, chọn vào No sound.

5) Gỡ bỏ thành phần windows vô ích: vào Control panel tìm Add or remove programs chọn Add/ remove windows components, bỏ 2 nút kiểm Indexing service và MSN explorer. Click tiếp vào Next và Finish.

6) Chỉnh lại Prefetcher (Preftcher Fix):

Prefetching là nét mới WinXP giúp cải thiện tốt thời gian nạp ứng dụng và boot Windows
tự động. Mặc nhiên Prefectching đang có và cấu hình tối ưu.
Tuy vậy, vẫn có nhiều thông tin và cả mẹo sai nên nếu bạn bất hoạt (disable) Prefetch sẽ làm thời gian nạp các ứng dụng bị què quặt. Windows prefetching đòi hỏi Task Scheduler được thiết lập ở Automatic và không được bất hoạt.
Bạn có thể tải về http://home.comcast.net/~optimizexp/Files/Prefetcher_Fix.zip để thiết lập mặc nhiên và tối ưu cho Prefetcher và cả dịch vụ Task Sheduler nên để ờ automatic.

7) Dịch vụ Task Scheduler: phải được thiết lập ở Automatic, để Prefetching hoạt động tối ưu Thư mục Prefetch và những file layout.ini tự động dọn dẹp, khi đạt đến 128 lần nhập vào và bạn khỏi phải lo điều ấy. Những người đòi xoá Prefetch và bất hoạt Automatic task Scheduler là chưa hiểu gì về hoạt động WinXP Prefectching.

8) Giảm kích thước thùng rác: mặc nhiên theo windows để là 10o/o ổ cứng khi đầy, là điều phí phạm ổ cứng và thường có hàng trăm MB không bao giờ được làm trống. ấn nút phải vào Recycle bin, click chuột trái trên Properties, chọn Global, kế Use one setting for all drives , kéo nút trượt về khoảng 3o/o.

9) Giảm kích thước hay bỏ hẳn System Restore: Nếu bạn có các file hình ảnh ổ cứng sao lưu bằng Ghost 11.01 hay True Image 11 thì để System Restore lại, sẽ là phí phạm đĩa cứng.

ấn nút phải My computer, chọn Properties rồi đến thẻ System Restore, đánh dấu nút kiểm Turn off System Restore on all drives.

Muốn giảm kích thước dành System restore: Vào Control panel, System, tìm thẻ System Restore chiếu sáng từng ổ đĩa chọn setting và dưới Drive space usage, đưa nút trượt còn 5o/o cho 1GB mỗi phân vùng và chọn OK.

10) Tăng tốc độ chỉ của chuột (Mouse pointer speed): mặc nhiên ở trung bình làm chậm đi di chuyển con trỏ quanh màn hình. Tăng thời gian này giúp dùng máy tính nhanh hơn và hiệu qua với ít động tác chuột. Vào Control panel, chọn Mouse, đến Tab Mouse pointer options, dưới Motion, chỉnh lại nút trượt 1-5 gần Fast, chỉ nên từ 1-3 steps, đánh dấu nút kiểm Enhanced pointer precision và chọn OK. Nên chọn mua chuột quang Microsoft.

11) Bất hoạt AVI Previewing: Mở một thư mục có quá nhiều file avi, sẽ làm chậm vì Window phải mở từng file avi, rồi mới lấy thông tin từ chúng ra, như chiều rộng, độ cao, bitartrate ...

Bạn nên tải file zip http://home.comcast.net/~optimizexp/Files/Disable_AVI_Previewing.zip bung ra rồi merge vào Registry XP.

II) Các tiện ích tăng tốc hệ thống:

1) Autorun : tải về http://download.sysinternals.com/Files/Autoruns.zip. Tiện ích này trình bày và kiểm tra các ứng dụng lúc khởi động. Nên bỏ bớt những thứ nào không cần thiết, để giảm được thời gian boot và hệ thống.

Bung file zip tải về và chạy file autorun.exe, đợi đến khi báo Ready ở góc trái, chọn thẻ Logon. Kế chọn Options, đánh dấu Hide Microsoft entries.

ấn vào nút Refresh hay ấn F5. Các đề mục còn lại đều là ứng dụng thứ 3, bỏ nút kiểm những thứ nào là không cần thiết.

2) Chkdsk: tiện ích sửa lỗi file hệ thống. Đánh lệnh chkdsk ở run thêm tên ổ đĩa và thêm /f để sữa lỗi

3) Chống phân mảnh ổ đĩa: Hiệu suất hoạt động các file hệ thống tối ưu khi các file nằm liên tục trên đĩa. Windows defragmenter không cần vì nó là bản thu nhỏ Diskeeper một khi bạn đã cài Diskeeper 2008.

- án nút phải vào ồ đĩa nào dự định làm chống phân mảnh, chọn Properties, rồi ở thẻ Tools, chọn Defragment now.
- Đánh lệnh dfrg.msc ở Start\Run, rồi chọn phân vùng cần chống phân mảnh.
Tuy nhiên, windows cần để dịch vụ DCOM Server Process Launcher automatic.

4) Chống phân mảnh file hoán chuyển (Page defrag): không cần khi cài Diskeeper. Phân mảnh file hoán chuyển và Registry là 2 nguyên nhân hàng đầu làm chậm hiệu suất file hệ thống. Diskeeper pro có giá license 49.95USD chạy nhanh 3-5 lần hơn Disk Defragmenter.

5) IZArc (công cụ miễn phí nén và giải nén sửa chữa file hư, convert nhiều loại file nhất): ZIP, A, ACE, ARC, ARJ, B64, BH, BIN, BZ2, BZA, C2D, CAB, CDI, CPIO, DEB, ENC, GCA, GZ, GZA, HA, IMG, ISO, JAR, LHA, LIB, LZH, MDF, MBF, MIM, NRG, PAK, PDI, PK3, RAR, RPM, TAR, TAZ, TBZ, TGZ, TZ, UUE, WAR, XXE, YZ1, Z, ZIP, ZOO..

Tải về bản miễn phí từ http://www.izarc.org/download.html

6)XP-AntiSpy: http://xp-spy.org/index.php?option=com_remository&func=sellang&iso=en. Bất hoạt những chức năng đáng ngờ của XP. Cài đặt và chạy, đến Profiles chọn vào Neutral và chọn nút kiểm ở hầu hết, ấn apply tiếp nhưng phải để các chức năng (ở Miscellaneous, Services Network) này trống:

Don't synchronize with internet time, Clear pagefile at shutdown, Deactivate Scripting Host , Always show *.lnk, *.url suffixes, Don't autostart CD's, Disable integrated Firewall, Disable Network crawling, Disable automatic updates, Disable Javascript, Disable ActiveX Controls , Clean website cache on shutdown, Disable auto-updates service, Disable task-scheduler service, Disable firewall/connection sharing service, Disable Security Center.

III) Các dịch vụ XP:

Có những dịch vụ bất hoạt làm tăng hiệu suất, thời gian boot nhưng có những cái khác nếu bất hoạt lại làm hại hơn là có lợi.

1) Loại bỏ Messenger: cải thiện an ninh và thời gian boot. Tải về rồi chạy file http://www.grc.com/files/shootthemessenger.exe
2) Unplug n' Pray: không nên disable vì nguy hiểm: sẽ ảnh hưởng tới khả năng hệ thống mạng (Universal Plug and Play networking).
3) Hướng dẫn dùng hay không dùng dịch vụ Windows XP: Đánh services.msc ở Start\Run, rồi chọn tiếp Services và nên chọn disable những thứ nào không cần. Riêng những thứ cần nên chuyển thành automatic hay manual.

a) Nên disable những dịch vụ sau:

Alerter, Distributed Link Tracking Client, Indexing Service, IPSEC Services, Portable Media Serial Number,Remote Registry Service, SSDP Discovery Service,Telnet,Upload Manager ,

Wireless Zero Configuration (nếu PC bạn không có, nhưng giữ nguyên khi dùng laptop)

b) Nên để automatic những dịch vụ này:

Application Layer Gateway Service (cần thiết cho Firewall), Automatic Updates, Background Intelligent Transfer Service (cần cho Window update), COM+ Event System (cần cho Bootvis và ứng dụng khác), Cryptographic Services, DNS Client (cải thiện hiệu suất mạng), DHCP Client (cần cho ADSL, Router), DCOM Server Process Launcher (Defragmenter), Event Log (cần cho windows), Logical Disk Manager (quản lý đĩa cứng), Network Connections, Plug and Play (không bao giờ nên bất hoạt), Print Spooler, Protected Storage (bảo vệ dữ liệu nhạy cảm), Remote Procedure Call (RPC): không nên disable, Security Accounts Manager, Security Center, Shell Hardware Detection, System Event Notification, Task Scheduler: (không bao giờ disable, cần cho NAV, bootvis, Prefetcher), Themes, Windows AudioWindows Firewall/Internet Connection Sharing (ICS),Windows Management Instrumentation: không nên disable, Computer Browser DHCP ClientNetwork ConnectionsServer, TCP/IP NetBIOS Helper, Wireless Zero Configuration,Workstation

IV) Nên dùng trình duyệt web nào?

Đa số người dùng chọn IE 70 vì tương thích nhiều trang web có thêm tabs và tích hợp Search và nét mới Antiphishing (chống trang web lấy cắp thông tin mật).
Các chuyên gia lại thích dùng Opera 9.50 hơn vì có hiệu suất cao hơn (thêm tabs, search và ngăn chận quảng cáo, tích hợp cả Bit Torrent client và Voice control) nhưng lại không tương thích với mọi trang web.

Firefox cũng tạo nhiều huyền thoại nhưng không nên dùng vì nhiều lý do ngoài việc đã chậm hơn IE, không an toàn, chỉ tương thích với 10-15o/o mọi trang web hiện có.

V) Khởi động XP (Boot) và tắt máy:

Cần phải cài vào để có kết quả tối ưu hệ thống. Những bước trước đây cải thiện thời gian boot như là Fix Prefetcher, bất hoạt Dịch vụ ngoại trừ Task Scheduler, dùng Autorun và chống phân mảnh.

1) Bootvis, tải về http://www.majorgeeks.com/download.php?det=664, tối ưu thời gian boot khi bạn chạy nó thay vì đợi theo định kỳ 3 ngày sau khi hệ thống nhàn rỗi sau 10 phút.

Tiếc là Bootvis không còn hỗ trợ bởi Microsoft. Không cần chạy lại bootvis lần nữa ngoại trừ thêm vào lấy đi driver và các ứng dụng chạy lúc khởi động.

Tải về bootvis và chạy bootvis.msi. Trong menu, tìm đến Trace, chọn Next boot và Drivers delays. Màn hình Trace Repetitions sẽ xuất hiện, chọn OK và Reboot máy lại.

Sau khi reboot, Bootvis sẽ tự động khởi động, phân tích và nạp quá trình boot cho hệ thống. Khi nào làm xong, trong menu đếnTrace, chọn Optimize system và Reboot lần nữa.

Lần này, khi hệ thống trở lại, nên chờ đến khi hộp thoại Optimizing System xuất hiện và còn phải chờ nhjiều phút đến khi quá trình này hoàn tất, bạn mới nên làm việc tiếp.
Bootvis cần 2 dịch vụ này: Task Scheduler và COM+ Event System ở Automatic. Bootvis vẫn còn không tương thich với IDE/SATA/RAID devices nên đôi lúc báo lỗi Number of physical drives in the trace file is 0. Phải gở Bootvis và tối ưu hoá bằng cách sau:

- Reboot windows XP 2 lần, mỗi lần chờ 1 phút sau khi màn hình dekstop xuất hiện hoàn tất cho phép Windows ghi đầy đủ vào file NTOSBOOT-B00DFAAD.PF.

- Đến Start\Run đánh lệnh Rundll32.exe advapi32.dll,ProcessIdleTasks phải mất 10-15 phút nhưng không có ghi chú gì là làm xong: bạn thấy tăng hoạt tính đĩa cứng khi chạy và chờ đến khi ngừng.

Trong Run đánh tiếp defrag c: -b đợi khi cửa sổ command prompt mất Bạn không cần làm lại lần nữa, trừ phi thêm vào ứng dụng khởi động driver. Và bạn không cảm thấy gì hết và phải chờ 3 ngày sau đó trước khi windows tự động tối ưu hoá.

2) Tắt máy( shutdown ) :

a) Tắt máy nhanh hơn nhờ phần mềm The Superfast Shutdown, tải về từ link này :

http://rapidshare.com/files/96617171/THe_Super_FastShutdown.zip
Dùng 1 trong 2 shortcut này, bạn sẽ tắt hay reboot máy rất nhanh nhưng do tính chất force shutdown nên không lưu cấu hình desktop được.
b) Tải về từ link Microsoft http://www.microsoft.com/downloads/details.aspx?FamilyId=1B286E6D-8912-4E18-B570-42470E2F3582&displaylang=en.
Với dịch vụ User Profile Hive Cleanup Service, giúp bạn log off nhanh hơn và vấn đề không tương thích giữa các profile.